Trong phiên khớp lệnh liên tục thì nhà đầu tư có thể nhìn thấy giá chờ bên mua và bên bán, lệnh của nhà đầu tư đặt vào sẽ được so khớp ngay với lệnh chờ sẵn trên bảng điện.
Trong hai phiên khớp lệnh định kỳ ATO, ATC thì trong khoảng 15 phút diễn ra của phiên, lệnh sẽ không được khớp ngay khi vào hệ thống mà sẽ được dồn vào hệ thống và tiến hành so khớp ở thời điểm cuối cùng khi kết thúc phiên định kỳ
Nguyên tắc khớp lệnh liên tục
Ưu tiên về giá: Các lệnh có mức giá tốt nhất được ưu tiên thực hiện trước
Ưu tiên về thời gian: Nếu có nhiều lệnh cùng mức giá thì lệnh nào được nhập vào hệ thống trước sẽ được thực hiện trước
Ví dụ: Có 3 nhà đầu tư A, B, C đặt mua cổ phiếu XXX với khối lượng và giá như trong bảng trên.
Nếu lệnh C được nhập vào trước sau đó đến lệnh B và lệnh A thì chỉ có 1 mức giá khớp 78.000VNĐ với khối lượng khớp 2.000 CP.
Nếu trình tự các lệnh nhập vào hệ thống là A, B, C thì giá khớp sẽ là 81.000VNĐ cho lệnh B, C và 80.000VNĐ cho lệnh A, C với khối lượng khớp 1.000 CP tại mỗi mức giá.
Nếu trình tự các lệnh nhập vào hệ thống là A, C, B thì giá khớp sẽ là 80.000VNĐ cho lệnh A, C và 78.000VNĐ cho lệnh B, C với khối lượng là 1.000 CP tại mỗi mức giá.
Nếu trình tự các lệnh nhập vào hệ thống là B, C, A thì giá khớp sẽ là 81.000VNĐ cho lệnh B, C và 78.000VNĐ cho lệnh A, C với khối lượng là 1.000 CP tại mỗi mức giá.
Nguyên tắc khớp lệnh định kỳ .
Ưu tiên về giá: Lệnh mua bán ở giá ATO, ATC được ưu tiên đầu tiên. Lệnh mua có mức giá cao hơn được ưu tiên thực hiện trước. Lệnh bán có mức giá thấp hơn được ưu tiên thực hiện trước.
Ưu tiên về thời gian: Trường hợp các lệnh mua hoặc lệnh bán có cùng mức giá thì lệnh nhập vào hệ thống giao dịch trước sẽ được ưu tiên thực hiện trước.
Nguyên tắc xác định giá thực hiện trong phương thức khớp lệnh định kỳ:
(1) Là mức giá thực hiện đạt được khối lượng giao dịch lớn nhất .
(2) Nếu có nhiều mức giá thỏa mãn nguyên tắc (1) thì mức giá trùng hoặc gần với giá thực hiện của lần khớp lệnh gần nhất sẽ được chọn
Ví dụ: Trong phiên khớp lệnh định kỳ xác định giá mở của của cổ phiếu XXX (giá tham chiếu của XXX là 100,000VNĐ Nguyên tắc xác định giá tham chiếu) có 10 nhà đầu tư A, B, C, D, E, F, G, H, I, J cùng đặt lệnh với giá và khối lượng như sau :
I mua ATO 2000 cổ, A mua LO 5000 cổ giá 105,000VNĐ, B mua LO 1000 cổ giá 100,000VNĐ, C mua LO 1500 cổ giá 99,500VNĐ, D mua LO 8000 cổ giá 98,000VNĐ,
J bán ATO 3000 cổ, H bán LO 1000 cổ giá 98,000VNĐ, F bán LO 3500 cổ giá 99,000VNĐ lúc 09h05, G bán LO 4000 cổ giá 99,000VNĐ lúc 09h10, E bán LO 1500 cổ giá 100,000VNĐ,
Lập một bảng bao gồm tất cả các mức giá mà các nhà đầu tư đặt lệnh theo thứ tự từ cao xuống thấp, áp dụng nguyên tắc ưu tiên về giá, tích lũy khối lượng từ cao xuống thấp cho bên mua, khối lượng từ thấp lên cao cho bên bán.
Giá thực hiện đạt được khối lượng giao dịch lớn nhất là giá được chọn, ở đây ta thấy ở mức giá 99,000VNĐ và 99,500VNĐ đều có khối lượng so khớp tạm tính lớn nhất là 9500 cổ. Do đó phải áp dụng thêm nguyên tắc thứ (2) và chọn giá sát nhất với giá tham chiếu (100,000VNĐ) là 99,500VNĐ.
Kết quả của phiên khớp lệnh định kỳ ATO, giá mở cửa là 99,500VNĐ, mặc dù các nhà đầu tư đặt lệnh mua bán ở các mức giá khác nhau nhưng tất cả đều mua và bán được cổ phiếu ở chính mức giá này. I mua được 2000cp, A mua được 5000 cổ phiếu, B mua được 1000cp, C mua được 1500cp. Ở chiều bán J bán được 3000cp, H bán được 1000cp, F và G đặt lệnh cùng mức giá nhưng F vào lệnh sớm hơn nên được ưu tiên khớp hết 3500cp. So khớp khối lượng lớn nhất chỉ được 9500cp, trong đó J, H, F đã được ưu tiên bán trước với tổng khối lượng là 7500cp, nên lệnh bán của G là 4000cp nhưng chỉ bán được 2000cp. D do đặt mua với giá thấp, E đặt bán với giá cao hơn giá thực hiện nên không mua bán được. Lệnh của D, E, và một phần lệnh còn lại của G sẽ được chuyển vào phiên khớp lệnh liên tục chờ khớp.